08/05/2026 03:47

Gạo Việt bán khắp thế giới nhưng nông dân vẫn khó giàu

Việt Nam đã vươn lên thành quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, nhưng phía sau những con số tăng trưởng ấy vẫn là một nghịch lý chưa dễ tháo gỡ: người trồng lúa vẫn chưa thực sự sống tốt nhờ hạt gạo mình làm ra.

Đó cũng là trăn trở được ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) nêu ra tại Hội nghị thúc đẩy xuất khẩu nông lâm thủy sản ngày 8/5.

Theo ông Nam, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 8,06 triệu tấn gạo, vượt Thái Lan để trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới. Không chỉ tăng về sản lượng, gạo Việt cũng dần tạo được dấu ấn riêng với các dòng gạo thơm như ST, OM, DT… được nhiều thị trường quốc tế biết đến hơn trước.

Tuy nhiên, vị thế xuất khẩu tăng lên chưa đồng nghĩa người trồng lúa hưởng lợi tương xứng. Theo VFA, gần 20 triệu nông dân trồng lúa hiện vẫn thuộc nhóm có thu nhập thấp so với nhiều lĩnh vực nông nghiệp khác.

4 tháng đầu năm 2026 cho thấy rõ hơn sự bấp bênh của ngành gạo. Việt Nam xuất khẩu khoảng 3,33 triệu tấn gạo, thu về khoảng 1,5 tỷ USD.

Nhưng điều đáng chú ý là giá xuất khẩu bình quân chỉ còn khoảng 468 USD/tấn, giảm mạnh so với mức khoảng 508 USD/tấn của năm trước và xuống mức thấp nhất trong khoảng 5 năm trở lại đây.

Có thời điểm giá lúa tươi tại ruộng chỉ quanh 5.000 đồng/kg, trong khi giá xuất khẩu gạo khoảng 10.000 đồng/kg. Áp lực vì thế dồn trực tiếp lên người trồng lúa.

Theo VFA, nguyên nhân không hoàn toàn đến từ cung cầu thực tế mà còn xuất phát từ tâm lý thị trường. Chỉ cần xuất hiện thông tin Philippines giảm nhập khẩu, thị trường lập tức phản ứng mạnh. Nhiều doanh nghiệp đẩy hàng ra bán để giữ thị phần hoặc giảm tồn kho, khiến giá gạo giảm sâu trong thời gian ngắn.

Trong chuỗi tác động đó, người chịu thiệt nhiều nhất vẫn là nông dân. Doanh nghiệp gặp khó, còn phần giá trị gia tăng lớn lại rơi vào khâu trung gian thu gom.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, điểm yếu lớn của ngành lúa gạo hiện nay là người nông dân chưa có khả năng điều tiết thị trường, cũng chưa chủ động được thời điểm bán hàng. Đây là khác biệt khá lớn nếu so với ngành cà phê, nơi nhiều nông dân đã có xu hướng chủ động lưu trữ sản phẩm để chờ giá thuận lợi hơn.

Câu chuyện này cho thấy ngành gạo Việt Nam dù đã đi xa về sản lượng xuất khẩu nhưng vẫn chưa thật sự mạnh về quyền định giá.

Muốn thay đổi điều đó, bài toán không chỉ nằm ở việc bán được nhiều gạo hơn mà còn phải giúp người trồng lúa có vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị. VFA cho rằng cần thúc đẩy cơ chế để nông dân có thể trữ lúa thông qua hợp tác xã hoặc liên kết với kho của doanh nghiệp xuất khẩu. Đồng thời, cần có cơ chế ứng vốn sau thu hoạch để nông dân không bị buộc phải bán tháo ngay khi giá xuống thấp.

Bên cạnh đó, thị trường xuất khẩu cũng đang đối mặt nhiều rào cản. Trung Quốc tiếp tục quản lý nhập khẩu gạo bằng hạn ngạch và danh sách doanh nghiệp được cấp phép, trong khi Philippines áp dụng cơ chế giấy phép nhập khẩu riêng.

Ngoài câu chuyện thị trường, logistics cũng là áp lực lớn với doanh nghiệp xuất khẩu gạo. Chi phí vận chuyển tăng, thiếu container rỗng, cắt giảm tuyến tàu hay biến động phụ phí đều ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của gạo Việt Nam.

Một vấn đề khác được ông Nam nhắc đến là câu chuyện thương hiệu. Theo ông, Việt Nam hiện đã có nhiều giống gạo chất lượng cao được thị trường quốc tế biết đến, nhưng giá trị thương hiệu của hạt gạo Việt vẫn chưa tương xứng. Trong nhiều năm, ngành gạo chủ yếu cạnh tranh bằng sản lượng và giá bán, trong khi khả năng định vị thương hiệu, truy xuất nguồn gốc hay kiểm soát chất lượng đồng bộ vẫn còn là điểm yếu.

Theo VFA, nếu không nâng được giá trị thương hiệu, ngành gạo Việt sẽ tiếp tục rơi vào vòng luẩn quẩn “được mùa nhưng khó tăng giá”.

Elsa

Link nội dung: https://www.eranet.vn/gao-viet-ban-khap-the-gioi-nhung-nong-dan-van-kho-giau-98.html